Tiềm năng tạo việc làm xanh ở Việt Nam (P2)

45

Trong thời kỳ quá độ sang nền kinh tế xanh, những việc làm mới được tạo ra sẽ dần thay thế việc làm bị mất đi do chuyển đổi nền kinh tế hiện tại sang nền kinh tế xanh. Tuy nhiên, sẽ có giai đoạn tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, đòi hỏi sự đầu tư và công tác tái đào tạo nguồn nhân lực.

Vai trò của Kinh tế xanh

Kinh tế xanh cũng đã được chứng minh là có hiệu quả về mặt dài hạn hơn hẳn kinh tế “nâu”, đồng thời duy trì và phục hồi vốn tự nhiên. Nếu có ý thức phát triển kinh tế xanh sớm sẽ rút ngắn được quá trình phát triển, nhanh chóng tiến tới xã hội thịnh vượng, bền vững.

vieclamxanhvietnam1
Việc làm xanh có vai trò quan trọng trong giai đoạn phát triển mới, phát triển kinh gắn với bảo vệ môi trường. Chính sách kinh tế xanh có thể giúp các nước phát triển và đang phát triển đạt được các lợi ích về kinh tế thông qua việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng

Thứ nhất, Kinh tế xanh đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững. Nhất là, sự phát triển ấy có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng hay làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.

Trong nền kinh tế xanh, môi trường được xem là nhân tố có tính quyết định đến tăng trưởng kinh tế, cải thiện chuỗi giá trị, đem lại sự ổn định và thịnh vượng lâu dài. Như vậy, nhân tố môi trường thực sự đóng vai trò như là chất xúc tác cho tăng trưởng và đổi mới; đồng thời có khả năng tạo ra tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội trong nền kinh tế xanh.

Cách thức để áp dụng mô hình Kinh tế xanh đối với một quốc gia phát triển hoặc đang phát triển có thể rất khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, chẳng hạn, đặc điểm địa lý, tài nguyên thiên nhiên, tiềm lực con người – xã hội và giai đoạn phát triển kinh tế. Tuy nhiên, có những nguyên tắc quan trọng nhất bao gồm: bảo đảm phúc lợi cao nhất, đạt mục tiêu công bằng về mặt xã hội và hạn chế tối đa những rủi ro cho môi trường và hệ sinh thái thì vẫn không thay đổi.

Thứ hai, kinh tế xanh góp phần xóa đói giảm nghèo. Hiện nay, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vẫn được sử dụng như là cách thức phổ biến nhất để đánh giá về một nền kinh tế. Nhưng có một hiện thực là, sự tăng trưởng đó thường được tạo ra thông qua việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên là loại tài sản “chung” như tài nguyên nước, rừng, không khí… là nguồn cung cấp tối cần thiết cho sự sống.

Để có tăng trưởng, chúng ta phải trả giá rất đắt trên cả hai phương diện kinh tế và xã hội, đặc biệt là một bộ phận những người mà sinh kế của họ phụ thuộc rất nhiều vào việc khai thác các nguồn lực môi trường. Suy giảm đa dạng sinh học và suy thoái các hệ sinh thái đang ảnh hưởng rất lớn đến các ngành nông nghiệp, chăn nuôi, đánh bắt cá, lâm nghiệp…

Một điều quan trọng nữa là, với mục đích tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản và cải thiện cơ sở hạ tầng, hướng tới nền kinh tế xanh được coi như là một trong những phương thức nhằm xóa đói giảm nghèo và cải thiện tổng thể chất lượng cuộc sống.

Chẳng hạn, cung cấp các nguồn năng lượng có khả năng hỗ trợ cho 1,4 tỉ người hiện đang thiếu điện và cho hơn 700 triệu người khác trên hành tinh hiện đang không được tiếp cận với các dịch vụ năng lượng hiện đại.

Công nghệ năng lượng tái tạo, như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và các chính sách hỗ trợ năng lượng hứa hẹn sẽ đóng góp đáng kể cho việc cải thiện đời sống và sức khỏe cho một bộ phận người dân có thu nhập thấp, nhất là đối với những người hiện đang không có khả năng tiếp cận với năng lượng.

Một điều khác mà chúng ta cần cân nhắc là việc ngừng hoặc chuyển hướng các khoản trợ cấp cho việc hủy hoại môi trường. Trên thực tế, khoảng 700 tỉ USD được chi ra mỗi năm bởi các chính phủ trên khắp thế giới để trợ cấp cho việc sử dụng nguồn nhiên liệu hóa thạch; khoản chi này lớn gấp năm lần tổng số tiền dành cho hỗ trợ phát triển.

Phần lớn nguồn trợ cấp được phân bổ đến chính phủ các nước đang phát triển, trong nỗ lực làm dịu cú sốc tăng giá nhiên liệu đối với người nghèo. Trái lại, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trợ cấp nhiên liệu hóa thạch là không hiệu quả đối với người nghèo, vì cái lợi mà họ được hưởng thường không tương xứng so với các nhóm có thu nhập cao hơn.

Gỡ bỏ các khoản trợ cấp gây hại môi trường hoặc thay thế bằng các loại hỗ trợ hướng đến các mục tiêu cụ thể hơn, như hỗ trợ bằng hình thức chuyển tiền mặt là cách tốt để góp phần thực hiện mục tiêu xã hội, đồng thời nới lỏng các hạn chế về mặt tài chính và cải thiện môi trường.

Thứ ba, kinh tế xanh tạo ra hàng loạt việc làm mới nổi và có nhiều tiềm năng. Một công việc tốt được hiểu như là công việc có năng suất lao động cao, cùng với hiệu quả về cải thiện môi trường sinh thái và ổn định lượng khí thải ra ở mức thấp sẽ góp phần tăng thu nhập, thúc đẩy tăng trưởng và giúp bảo vệ môi trường – khí hậu.

Đã có rất nhiều những việc làm xanh như vậy được tạo ra, đặc biệt là trong ngành năng lượng tái tạo, nông nghiệp hữu cơ, giao thông công cộng, cải tạo các khu công nghiệp, tái chế sản phẩm phụ và rác thải… Nhưng, để bảo đảm một quá trình chuyển đổi nhịp nhàng sang nền kinh tế xanh, cần phải có nỗ lực phối hợp cao trong việc tạo ra việc làm.

Các chính sách về xã hội được phát triển cùng với các chính sách về môi trường và kinh tế. Để bảo đảm một quá trình chuyển đổi nhịp nhàng, nhà nước cần tập trung vào các vấn đề quan trọng và cấp thiết, như đầu tư vào những kỹ năng mới, không thể thiếu cho một nền kinh tế toàn cầu, trong môi trường có hàm lượng carbon thấp; hay nghiên cứu các chính sách phù hợp để điều chỉnh việc làm trong các lĩnh vực chủ chốt như năng lượng và giao thông vận tải.

Thứ tư, kinh tế xanh bảo vệ sự đa dạng sinh học. Suy giảm đa dạng sinh học làm giảm phúc lợi của một bộ phận dân số thế giới, trong khi một bộ phận dân số khác gặp phải những vấn đề trầm trọng hơn vì đói nghèo.

Nếu tình trạng này tiếp tục, nó có thể gây ảnh hưởng đến sự hoạt động của các hệ sinh thái điều hòa khí hậu trong dài hạn và có thể dẫn đến những biến đổi không thể lường trước và có thể dẫn đến sự đảo ngược trong hệ thống trái đất và những thay đổi trong các dịch vụ hệ sinh thái là nguồn cung các nguyên liệu chủ yếu phục vụ cho phát triển kinh tế. Bởi những lý do này mà việc gìn giữ và bảo vệ các hệ sinh thái là trọng tâm của Chương trình nghị sự kinh tế xanh.

Ngoài ra, đầu tư xanh cũng nhằm giảm những hệ quả tiêu cực do các yếu tố bên ngoài gây ra bởi việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên. Người ta đã tính toán rằng, đầu tư vào bảo vệ rừng không những duy trì một loạt các ngành và sinh kế của con người mà còn bảo tồn được 80% các loài trên cạn.

Bằng cách thúc đẩy đầu tư vào lâm nghiệp xanh, Chương trình nghị sự kinh tế xanh sẽ góp phần ổn định đời sống kinh tế của hơn 1 tỉ người hiện đang sinh sống bằng các sản phẩm từ gỗ, giấy và chất xơ, với tổng thu nhập chỉ chiếm 1% GDP toàn cầu.

Thứ năm, knh tế xanh giúp các nước đang phát triển đạt được các lợi ích kinh tế và xã hội về nhiều mặt. Thông qua việc triển khai các công nghệ năng lượng sạch và cải thiện tiếp cận với các dịch vụ năng lượng; nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thông qua đầu tư và áp dụng sản xuất sạch hơn; bảo đảm an ninh lương thực thông qua việc sử dụng nhiều phương pháp nông nghiệp bền vững và tiếp cận với các thị trường mới nổi nhờ các hàng hóa và dịch vụ xanh của họ.

Những tiến bộ trong khai thác hiệu quả tài nguyên và đa dạng hóa các nguồn năng lượng sẽ góp phần giảm chi phí nhập khẩu và bảo đảm an ninh năng lượng cho các quốc gia, tránh những biến động của giá cả thị trường; đồng thời hạn chế các ảnh hưởng môi trường và chi phí liên quan đến sức khỏe từ những hoạt động sản xuất. Tất nhiên, mỗi quốc gia phải tự đánh giá các nguồn cung cấp vốn của mình và xem xét khả năng để có thể tối ưu hóa cơ hội cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững.

Mai Anh (ST theo CIEM)